Home / Ngữ văn / Ngữ văn lớp 9 / Phân tích bài thơ Ánh trăng của Nguyễn Duy

Phân tích bài thơ Ánh trăng của Nguyễn Duy

Phân tích bài thơ Ánh trăng của Nguyễn Duy – Bài làm 1

Thuỷ chung, trọn vẹn nghĩa tình là nét đẹp truyền thống của dân tộc ta. Ngay từ thuở xa xưa, cha ông ta đã từng có nhiều câu ca dao ca ngợi lòng chung thủy của con người:

“Cây đa cũ, bến đò xưa

Bộ hành có nghĩa, nắng mưa cũng chờ”.

Chính vì ý thức ấy mà có những lúc con người phải giật mình nhìn lại mình trong niềm ân hận vì đã có lúc mình chợt lãng quên. Bài thơ “Ánh trăng” của Nguyễn Duy nằm trong cảm hứng sáng tác ấy:

Hồi nhỏ sống với đồng

với sông rồi với bể

hồi ở rừng

vầng trăng thành tri kỉ.

 

Trần trụi với thiên nhiên

hồn nhiên như cây cỏ

ngỡ không bao giờ quên

cái vầng trăng tình nghĩa.

 

Từ hồi về thành phố

quen ánh điện, cửa gương

vầng trăng đi qua ngõ

như người dưng qua đường.

 

Thình lình đèn điện tắt

phòng buyn đinh tối om

vội bật tung cửa sổ

đột ngột vầng trăìig tròn.

 

Ngửa mặt lên nhìn mặt

có cái gì rưng rưng

như là đồng, là bể

như là sông, là rừng.

 

Trăng cứ tròn vành vạnh

kể chi người vô tình

ánh trăng im phăng phác

đủ cho ta giật mình.

Một quá khứ thật sống động, hồn nhiên được thể hiện qua hai khổthơ đầu hay chính là nỗi niềm hoài cổ của nhà thơ: “sống với đồng, với sông, với bể” từ lúc còn ấu thơ, sông “ở rừng” ngày chinh chiến. Không gian sống mở ra thật rộng lớn đến ngút ngàn. Ta tưởng tượng như không có gì ngăn cản được tầm mắt của con người. Không gian ấy trải ra để ánh trăng tỏa sáng, lung linh, không toan tính. Ánh trăng ấy luôn hiện về mỗi kì như người bạn thân thiết. Tác giả dùng từ “tri kỉ’ để nói về trăng ngày đã qua ấy, không những chỉ là “vầng trăng tri kỉ” mà còn là “vầng trăng tình nghĩa”, để con người “ngỡ không bao giờ quên”.

Khổ thơ thứ ba về một hoàn cảnh sống khác, hoàn cảnh này có phần đôi lập với cảnh cũ, người xưa:

“Từ hồi về thành phố

quen ánh điện, cửa gương

vầng trăng đi qua ngõ

như người dưng qua đường”.

“Ánh điện, cửa gương” cũng là những thứ ánh sáng hoặc phản chiếu ánh sáng, nhưng là biểu hiện của cuộc sống chốn phồn hoa đô hội. Tác giả đang về một nét tâm lí của con người: quen với cái sướng, dễ lãng quên một thời cực khổ. Lạnh lùng làm sao khi “vầng trăng đi qua ngõ, như người dưng qua đường”. Rất thực mà nghe tàn nhẫn đến cùng cực. Dẫu biết trăng không là người, mà sao cứ thấy sự nhẫn tâm ấy thật lớn.

Đến đây, bỗng nhiên mạch thơ vút lên trong sự bất ngờ. Thanh bằng cuối ba câu thơtrước đột ngột được thay bằng thanh trắc ở câu thơ đầu khổ thơ thứ tư: “thình lình đèn điện tắt”.

Phải, chính cái “thình lình” ấy đã tạo nên tình huống thơ: cái ánh điện, cửa gương kia trở nên quen thuộc quá, và giờ đây “phòng buyn đinh tối om” gợi cảm giác khó chịu. Phản xạ của con người lúc này là “vội bật tung cửa sổ” để tránh đi cái tối om, ngột ngạt trong phòng buyn đinh mất điện. Và rồi kia, bất ngờ, bình thường mà lại không bình thường chút nào, ngỡ ngàng làm sao khi:

“vội bật tung cửa sổ

đột ngột vầng trăng tròn”.

Cảm xúc của con người lúc này thật khó tả. Kĩ niệm ùa về không có gì cản nổi. Bất giác:

“ngửa mặt lên nhìn mặt

có cái gì rưng rưng

như là đồng, là bể

như là sông, là rừng”.

Cái “rưng rưng” của cảm xúc “nhớ” được thăng hoa. Nhìn trăng lúc này mà tưởng như đang thấy trăng của quá khứ, cái thuở sống với đồng, với bể, với sông, với rừng. Cảm xúc nhớ thương dâng lên trong thổn thức – Cái thổn thức thường có khi ta chạnh nhớ về những thật đẹp đã trôi qua. Để rồi, nhìn ánh trăng mà ngẫm:

“trăng cứ tròn vành vạnh

kể chi người vô tình”

Lời nói, lời tự sự thành thơ nghe như lời của tâm hồn. “Trăng tròn vành vạnh” lúc này đang đối lập với “người vô tình”, như cái vẹn nguyên đang đối lập với cái đổi thay.

“Ánh trăng im phăng phắc

đủ cho ta giật mình”.

Hình tượng “trăng tròn”, rồi “trăng im phăng phắc” mang tầm triết lí: trăng như một chứng nhân, như là quá khứ đang nghiêm khắc nhìn con người thay đổi. Không một lời, không trách cứ, thật bao dung mà thật đáng sợ. Chính sự im lặng ấy là cái “im lặng lên tiếng”, để lương tâm con người cắn rứt khôn nguôi. “Ánh trăng im phăng phắc, đủ cho ta giật mình”. Cái “giật mình” ngẫm nghĩ, cái giật mình tự thú. Ta bỗng nhớ đến sự im lặng của người thợ cắt tóc trong truyện ngắn “Bức tranh” của Nguyễn Minh Châu. Cũng không một lời, vậy mà anh cứ làm người họa sĩ day dứt mãi.

Nếu cái “giật mình” trong “Sông lấp” của Tú Xương: “Vẳng nghe tiếng ếch bên tai, giật mình còn tưởng tiếng ai gọi đò” là cái giật mình nhớ thương, tiếc nuối một quá khứ đẹp, thì “giật mình” trong “Ánh trăng” của Nguyễn Duy: “ánh trăng im phăng phắc, đủ cho ta giật mình” lại là cái “giật mình” của nỗi ân hận, giật mình vì cảm giác mình đang phản bội, đang quay lưng với quá khứ. Cái giật mình ở bài thơ này thực sự giật mình của lương tâm.

Giọng thơ như lời kể, câu này tiếp ý của câu kia, bài thơ vừa là thơ lại như lời tự sự, lời tâm tình. Cảm xúc trong thơ thật chân thành mà mãnh liệt. Lời phát ra cũng là lời nội tâm. Bài thơ nói hộ tiếng lòng của nhiều người có lẽ cũng từ những nét nghệ thuật này.

Cái “ánh trăng” nghiêm khắc, bao dung ấy còn sáng mãi, để nhắc nhỡ con người cần biết sống có trước có sau, có tình có nghĩa. Đó cũng chính là bài học mà tác phẩm để lại cho chúng ta.

Phân tích bài thơ Ánh trăng của Nguyễn Duy – Bài làm 2

Nguyễn Duy thuộc thế hệ làm thơ trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Mĩ. Vừa mới xuất hiện, Nguyễn Duy đã nổi tiếng với bài thơ “Tre Việt Nam". Bài "Hơi ấm ổ rơm" của anh đã từng đoạt giải thưởng báo Văn Nghệ. Hiện nay. Nguyễn Duy vẫn tiếp tục sáng tác. Anh viết đểu và khỏe. "Ánh trăng" là một trong những bài thơ cùa anh được nhiều người ưa thích bởi tình cảm chân thành, sâu sắc. tứ thơ bất ngờ mới lạ.

Hai khổ thơ đầu tác giả nhắc đến những kỉ niệm đẹp:

               "Hồi nhỏ sống với đồng

                với sông rồi với bể

                hồi chiến tranh ở rừng

                vầng trăng lị thành tri kỉ."

Trăng gắn bó với tác giả ngay từ thời thơ ấu. Trăng gắn với đồng ruộng, dòng sông, biển cả. Dù ở đâu, đi đâu trăng cũng ở bên cạnh. Nhưng phải đến khi ở rừng nghĩa là lúc tác giả sống trên tuyến đường Trường Sơn xa gia đình, quê hương vầng trăng mới thành “tri kỉ". Trăng với tác giả là đôi bạn không thể thiếu nhau. Trăng chia ngọt sẻ bùi, trăng đồng cam cộng khổ.

Tác giả khái quát vẻ đẹp của trăng, khẳng định tình cảm yêu thương, quý trọng của mình đối với trăng:

                “Trần trụi với thiên nhiên

                 hồn nhiên như cây cỏ

                 ngỡ không bao giờ quên

                 cái vầng trăng tình nghĩa.”

Trăng có vẻ đẹp vô cùng bình dị, một vẻ dẹp không cần trang sức, đẹp mội cách vô tư, hồn nhiên. Trăng tượng trưng vẻ đẹp thiên nhiên nên trăng hóa vào thiên nhiên, hòa vào cây cỏ. “Vầng trăng tình nghĩa" bởi trăng từng chia ngọt sẻ bùi, đồng cam cộng khổ, bởi trăng là người bạn, tri âm, tri kỉ như tác giả đã nói ở trên.

Ấy thế mà có những thời gian tác giả tự thú là mình đã lãng quên cái “vầng trăng tình nghĩa" ấy:

                  “Từ hồi về thành phố

                   quen ánh điện, cửa gương

                   vầng trăng đi qua ngõ

                   như người dưng qua đường. ”

Trước đây, tác giả sống với sông, với bể, với rừng, bây giờ môi trường sống đã thay đổi. Tác giả về sống với thành phố. Đời sống cũng thay đổi theo, “quen ánh điện”, “cửa gương". “Ánh điện”, "cửa gương" tượng trưng cho cuộc sống sung túc, đầy đủ sang trọng… dần dần "cái vầng trăng tình nghĩa” ngày nào bị tác giả lãng quên. “Vầng trăng" ở đây tượng trưng cho những tháng năm gian khổ. Đó là tình bạn, tình đồng chí được hình thành từ những năm tháng gian khổ ấy. “Trăng" bây giờ thành “người dưng". Con người ta thường hay đổi thay như vậy. Bởi thế người đời vẫn thường nhắc nhau: “ngọt bùi nhớ lúc đắng cay”. Ớ thành phố vì quen với "ánh điện, cửa gương”, quen với cuộc sống đầy đủ tiện nghi nên người đời không thèm để ý đến“vầng trăng" từng là bạn tri ki một thời.

Xem thêm:  Tại sao một số hội viên tiên tiến của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh biên ở Bắc Kì lại chủ động thành lập chi bộ cộng sản đầu tiên ở Việt Nam?

Phải đến lúc toàn thành phố mất diện:

                    “Thình lình đèn điện tắt

                      phòng buyn đinh tối om

                      vội bật tung cửa sổ

                      đột ngột vầng trăng tròn."

"Vầng trăng" xuất hiện thật bất ngờ, khoảnh khắc ấy, phút giây ấy,… tác giả, bàng hoàng trước vẻ đẹp kì diệu của vầng trăng. Bao nhiêu kỉ niệm xưa bỗng ùa về làm tác giả cứ “rưng rưng" nước mắt:

                     “Ngửa mặt lên nhìn mặt

                     có cái gì rưng rưng

                     như là đồng, là bể

                     như là sông, là rừng”.

Nguyễn Duy gặp lại ánh trăng như gặp lại người bạn tuổi thơ, như gặp lại người bạn từng sát cánh bên nhau trong những tháng năm gian khổ. Tác giả không dấu được niềm xúc dộng mãnh liệt của mình. “Vầng trăng" nhắc nhở tác giả đừng bao giờ quên những tháng năm gian khổ ấy, đừng bao giờ quên tình bạn, tình đồng chí đồng đội, những người đã từng đồng cam cộng khổ. chia ngọt sẻ bùi trong những tháng năm chiến dấu đầy gian lao thử thách.

Khổ cuối bài thơ, Nguyễn Duy đưa người đọc cùng đắm chìm trong suy tư, trong chiêm nghiệm về “vầng trăng tình nghĩa" một thời:

                     “Trăng cứ tròn vành vạnh

                      kể chi người vô tình

                      ánh trăng im phăng phắc

                      đủ cho ta giật mình… ”

Trăng vẫn thủy chung mặc cho ai thay đổi, vô tình với trăng. Trăng bao dung và độ lượng biết bao! Tấm lòng bao dung độ lượng ấy "đủ cho ta giật mình" mặc dù trăng không một lời trách cứ. Trăng tượng trưng cho phẩm chất cao quý của nhân dân, trăng tượng trưng cho vẻ đẹp bền vững của tình bạn, tình chiến đấu trong những tháng năm “không thể nào quên".

“Ánh tràng" của Nguyền Duy gây được nhiều xúc động đối với nhiều thế hệ độc giả bởi cách diễn tả bình dị như những lời tâm sự, lời tự thú, lời tự nhắc nhở chân thành. Giọng thơ trầm tĩnh, sâu lắng. Tứ thơ bất ngờ, mới lạ. “Ánh trăng” còn mang ý nghĩa triết lí về sự thủy chung khiến người đọc phải “giật mình" suy nghĩ, nhìn lại chính mình để sống đẹp hơn, nghĩa tình hơn.

Phân tích bài thơ Ánh trăng của Nguyễn Duy – Bài làm 3

Cát trắng và Ánh trăng là hai tập thơ của Nguyễn Duy, nhà thơ trưởng thành trong kháng chiến chống Mĩ. Một hồn thơ tươi trẻ tỏa mát bóng tre, như con sóng vỗ dòng sông thơ ấu phảng phất hương vị đồng quê:

Thuở nhỏ tôi ra cống Na câu cá

 Níu váy bà đi chợ Bình Lâm

Bắt chim sẻ ở vành tai tượng Phật

Và đôi khi ăn trộm nhãn chùa Trầm.

(Đò Lèn)

Tre Việt Nam, Hơi ấm rơm, Ánh trăng,  Đò Lèn… là những bài thơ nổi tiếng của Nguyễn Duy. Bài thơ Ánh trăng rút trong tập thơ cùng tên, được tác giả viết vào năm 1978, tại Thành phố Hồ Chí Minh, 3 năm sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng. Bài thơ như một lời tâm sự chân thành: vầng trăng không chỉ là vẻ đẹp thiên nhiên mà nó còn gắn bó với tuổi thơ, với những ngày  kháng chiến gian khổ. Vầng trăng đối với mỗi chúng ta không bao giờ có thể quên và đừng vô tình lãng quên.

Nếu như trong bài thơ Tre Việt Nam câu thơ lục bát có khi được tách ra thành 2 hoặc 3 dòng thơ để tạo nên hiệu quả nghệ thuật biểu đạt gây ấn tượng thì ở bài thơ Ánh trăng này lại có một nét mới. Chữ đầu của dòng thơ, câu thơ không viết hoa. Phải chăng nhà thơ muốn cho cảm xúc được dào dạt trôi theo dòng chảy của thời gian, kỉ niệm?

Hai khổ thơ đầu nói về vầng trăng của tuổi thơ và vầng trăng thời chiến tranh, vầng trăng tuổi thơ trải rộng trên một không gian bao la: Hồi nhỏ sống với đồng – với sông rồi với bể". Hai câu thơ 10 tiếng, gieo vần lưng (đồng – sông); từ "với" được điệp lại 3 lần nhằm diễn tả một tuổi thơ đi nhiều, được hạnh phúc những vẻ đẹp kì thú của thiên nhiên, từng được trên đồng quê, trên dòng sông và trên bãi bể. Tuổi thơ của chúng ta dễ có mấy ai được cái cơ may ấy như nhà thơ? Thuở bé nhà thơ Trần Đăng Khoa cũng chỉ được nơi sân nhà: "Ông trăng tròn  sáng tỏ – Soi rõ sân nhà em… Chỉ có trăng sáng tỏ – Soi rõ sân nhà em…" (Trăng sáng sân nhà em).

Tuổi thơ được ngắm trăng thích thế, như một chút hoài niệm xa vời. Hai câu thơ tiếp theo nói về hồi máu lửa, trăng với người lính, trăng đã thành "tri kỉ":

Hồi chiến tranh ở rừng

Vầng trăng thành tri kỉ.

"Tri kỉ": biết người như biết mình; bạn tri kỉ là người bạn rất thân, hiểu biết mình. Trăng với người lính, với nhà thơ trong những năm ở rừng thời chiến tranh đã trở thành đôi bạn tri kỉ – người chiến sĩ nằm ngủ dưới trăng "Ôi khuya ngon giấc bên song trăng nhòm" (Hồ Chí Minh). Giữa rừng khuya sương muối, người chiến sĩ đứng chờ giặc tới "đầu súng trăng treo" (Chính Hửu). Nẻo đường hành quân của người chiến sĩ nhiều đêm đã trở thành "nẻo đường trăng dát vàng". Trăng đã chia sẻ ngọt bùi hân hoan trong niềm vui thắng trận với người lính tiền phương. Đất nước trải qua những năm dài máu lửa, trăng với anh bộ đội đã vượt lên mọi tàn phá hủy diệt của bom đạn quân thù:

Và vầng trăng, vầng trăng

Đất nước vượt qua quầng lửa, mọc lên cao.

()

Các tao nhân ngày xưa thường "đăng lầu vọng nguyệt", còn anh bộ đội Cụ Hồ một thời trận mạc đã nhiều phen đứng trên đồi cao, hành quân vượt núi cũng say sưa ngắm vành trăng cao nguyên. Thật là thú vị khi đọc vần thơ Nguyễn Duy vì nó đã mở ra trong lòng nhiều người một trường liên tưởng: "hồi chiến tranh ở rừng – vầng trăng thành tri kỉ”

Khổ thơ thứ hai như một lời nhắc nhở của tác giả về những năm tháng gian lao đã qua của cuộc đời người lính gắn bó với thiên nhiên, đất nước bình dị, hiền hậu. Lại một vần lưng nữa xuất hiện – một ẩn dụ so sánh làm nổi bật chất trần trụi, chất hồn nhiên người lính những năm tháng ở rừng. Đó là cốt cách của các anh:

Trần trụi với thiên nhiên

Hồn nhiên như cây cỏ

Vầng trăng là biểu tượng đẹp của những năm tháng ấy, đã trở thành "vầng trăng tri kỉ", “ vầng trăng tình nghĩa" ngỡ như không bao giờ có thể quên. Một ý thơ làm động đến đáy tâm hồn, như một sự thức tỉnh lương tâm đối với những kẻ vô tình: "Ngỡ không bao giờ quên – vầng trăng tình nghĩa".

Sự thay đổi của lòng người thật đáng sợ. Hoàn cảnh sống đổi thay, con người dễ thay đổi, có lúc dể trở nên vô tình, có kẻ dễ trở thành "ăn ở bạc". Từ ở rừng, sau về thành phố, được trưng diện và xài sang: ở buyn đinh, cao ốc, quen ánh điện, cửa gương… và "vầng trăng tri kỉ", "vầng trăng tình nghĩa" đã bị người lãng quên, dửng dưng. Cách so sánh thấm thía làm chột dạ nhiều người:

Từ hồi về thành phố

quen ánh điện, cửa gương

vầng trăng đi qua ngõ

 như người dưng qua đường.

Trăng được nhân hóa, lặng lẽ đi qua đường, trăng như người dưng đi qua, chẳng còn ai nhớ, chẳng còn ai hay. Người có lương tâm, lương tri mới biết sám hối. Biết sám hối để tự hoàn thiện nhân cách, tự vươn lên, hướng tâm hồn về ánh sáng và cái cao cả. Không đao to búa lớn, không đại ngôn, mà trái lại, giọng thơ thầm thì như trò chuyện, giãi bày tâm sự, nhà thơ đang trò chuyện với mình. Chất trữ tình của thơ ca trở nên sâu lắng, chân thành.

Xem thêm:  Phân tích bài thơ Ánh trăng của Nguyễn Duy

Cũng như dòng sông có thác ghềnh, có quanh co, uốn khúc, cuộc đời cũng có nhiều biến động li kì. Ghi lại một tình huống "cuộc sống thị thành" của những con người mới ở rừng về thành phố, nhà thơ chỉ sử dụng 4 câu thơ 20 từ. Các từ "thình lình", "vội", "đột ngột" gợi tả tình thái đầy biểu cảm. Có nhà triết học nói: "Cuộc đời dạy ta nhiều hơn trang sách" vần thơ của Nguyễn Duy nói với ta rất nhiều:

Thình lình đèn điện tắt

phòng buyn – đinh tối om

vội bật tung cửa sổ

đột ngột vầng trăng tròn.

Trăng xưa đã đến với người, vẫn "tròn", vẫn "đẹp", vẫn thủy chung với mọi người, mọi nhà, với thi nhân, với người lính. Người ngắm trăng rồi suy ngẫm bâng khuâng:

Ngửa mặt lên nhìn mặt

có cái gì rưng rưng

như là đồng, là bể

 như là sông, là rừng.

Nguyễn Tuân từng coi trăng là "cố nhân", nhà thơ Xuân Diệu, trong bài Nguyệt cầm viết cách đây hơn 60 năm cũng có câu: "Trăng thương, trăng nhớ, hỡi trăng ngần”. Trở lại với tâm trạng người lính trong bài thơ này, một cái nhìn đầy áy náy xót xa: "Ngửa mặt lên nhìn mặt". Hai chữ "mặt" trong vần thơ: mặt trăng và một người cùng "đối diện đàm tâm". Trăng chẳng nói, trăng chẳng trách, thế mà người lính cảm thấy "có cái gì rưng rưng". "rưng rưng" nghĩa là vì xúc động, nước mắt đang ứa ra, sắp khóc. Giọt nước mắt làm cho lòng người thanh thản lại, trong sáng lại, cái tốt lành hé lộ. Bao kỉ niệm đẹp một đời người ùa về, tâm hồn gắn bó, chan hòa với thiên nhiên, với vầng trăng xưa, với đồng, với bể, với sông, với rừng, với quê hương đất nước. Cấu trúc câu thơ song hành, với biện pháp tu từ so sánh, với điệp từ (là) cho thấy ngòi bút của Nguyễn Duy thật tài hoa:… "như là đồng là bể – như là sông là rừng". Đoạn thơ hay ở chất thơ bộc bạch chân thành, ở tính biểu cảm, ở tính hình tượng và hàm súc, từ ngôn ngữ hình ảnh đi vào lòng người, khắc sâu điều nhà thơ muốn tâm sự với chúng ta một cách nhẹ nhàng mà thấm thía.

Khổ thơ cuối bài thơ mang tính hàm nghĩa độc đáo, đưa tới chiều sâu tư tưởng triết lí:

Trăng cứ tròn vành vạnh

kể chi người vô tình

ánh trăng im phăng phắc

đủ cho ta giật mình.

"Tròn vành vạnh" là trăng rằm, một vẻ đẹp viên mãn. “Im phăng phắc" là im như tờ, không một tiếng động nhỏ, vầng trăng cứ tròn đầy và lặng lẽ "kể chi người vô tình" là biểu tượng của sự bao dung độ lượng, của nghĩa tình thủy chung trọn vẹn trong sáng mà không hề đòi hỏi đền đáp. Đó cũng chính là phẩm chất cao cả của nhân dân mà Nguyễn Duy cũng như nhiều nhà thơ cùng thời đã phát hiện và cảm nhận một cách sâu sắc trong thời kì chiến tranh chống Mĩ.

Ánh trăng là một bài thơ hay. Thể thơ năm chữ được vận dụng sáng tạo, tài hoa. Sự phong phú vần điệu, ngôn ngữ trong sáng, giọng thơ tâm tình vừa hướng nội vừa hướng ngoại. Nhà thơ tâm sự với người đọc những sâu kín nhất nơi lòng mình. Chất triết lí thâm trầm được diễn tả qua hình tượng "ánh trăng" đã tạo nên giá trị tư tưởng và nghệ thuật của bài thơ. Không nên sống vô tình. Phải thủy chung trọn vẹn, phải nghĩa tình sắt son với bạn bè, đồng chí, với nhân dân – đó là điều mà Nguyễn Duy nói thật hay, thật cảm động qua bài thơ này.

Phân tích bài thơ Ánh trăng của Nguyễn Duy – Bài làm 4

Trăng là đề tài muôn thuở của thi ca. Với ánh sáng hiền diệu, với chu kì tròn khuyết lạ lùng, trăng đã gợi cho các thi nhân cổ kim nhiều ý tưởng sâu xa.  Nguyễn Duy là nhà thơ lớn lên từ đồng quê, trăng như một ám ảnh. Rồi xê dịch với thời gian, và không gian, trăng vẫn theo đuổi nhà thơ và thế là thành thơ, thành triết lí …

Bài  thơ “ Anh trăng ” được viết theo thể thơ  năm chữ, nhịp điệu  linh hoạt  để thể hiện sự vận động  của không giạn, của thời gian. Nếu như trong bài thơ “ Tre Việt Nam ” Câu thơ lục bát  có khi được tách ra  thành 2 hoặc 3  dòng thơ để tạo nên  hiệu quả  nghệ thuật  biểu đạt  gây ấn tượng, thì bài thơ “ Anh trăng ” này lại có  một nét mới. Chữ đầu  của dòng  thơ, câu thơ không  viết hoa. Phải chăng nhà thiơ muốn  cho cảm xúc được dào dạt  trôi theo dòng chảy của thời gian kỉ niệm.

Hai câu thơ đầu  nhà thơ nói về  vầng trăng của tuổi thơ  và vầng trăng của  thời chiến tranh.      

Hồi nhỏ sống với  đồng

với sông rồi với bể

Vầng trăng tuổi thơ trải rộng  trên một không gian  bao la. Hai câu thơ 10 tiếng, gieo vầng lưng ( đồng – sông ), từ “ với ” được điệp lại 3 lần  nhằm diễn tả  một tuổi thơ đi nhiều, được hạnh phúc  cảm nhận những vẻ đẹp kì thú của thiên nhiên, từng được ngắm trăng trên đồng quê, ngắm trăng trên dòng sông  và ngắm trăng trên bãi bể. Ta thấy hồi ức được kể lại  bằng hình ảnh. Hình ảnh  chuyển rất nhanh, cái hay là bằng hình ảnh không gian đã diễn tả được  sự vận động của thời gian.

Hai câu thơ tiếp theo nói về  thơì  chiến tranh, vầng trăng của người lính, trăng đã thành tri kỉ.

Hồi chiến tranh ở rừng

Vầng trăng thành tri kỉ

Tri kỉ là biết người biết mình, bạn tri kỉ là người bạn rất thân, hiểu biết mình. Trăng với người lính, với nhà thơ  trong những năm ở rừng  thời chiến tranh đã trở thành đôi bạn tri kỉ. Người chiến sĩ nằm ngủ dưới trăng, giữa rừng khuya sương muối, người chiến sĩ đứng chờ giặc tới. hành quân của người lính  nhiều đêm đã trở thành  dát vàng. Trăng đã chia sẻ  ngọt bùi hân hoan trong niềm vui thắng trận  với người lính tiền phương. Đất nước đã trải qua  những năm dài máu lửa, trăng với anh bộ đội đã vượt lên  mọi tàn phá hủy diệt  của bom đạn quân thù.  Thật thú vị khi đọc  những vầng thơ của Nguyễn Duy  vì nó đã mở ra  trong lòng  nhiều người  một trường liên tưởng.

Hồi chiến tranh ở rừng

Vầng trăng thành tri kỉ

Sang khổ thơ thứ 2  như một lời nhắc nhở của tác giả  về những năm tháng  gian lao đã  qua của cuọc đời người lính  gắn bó với thiên nhiên, với đất nước  bình dị, hiền hậu. Bằng nghệ thuật ẩn dụ, so sánh  nhà thơ làm nổi bật chất trần trụi, chất hồn nhiên  của người lính  những năm tháng ở rừng. Đó là cốt cách của các anh.

Trần trụi với thiên nhiên

hồn nhiên như cây cỏ

ngỡ không bao giờ quên

cái vầng trăng tình nghĩa

Vầng trăng là biểu tượng  của những ăm tháng ấy, đã trở thành vầng trăng tri kỉ,  vầng trăng tình nghĩa, ngỡ như  không bao gì có thể quên. Một ý thơ  làm động đến  tâm hồn như một thức tỉnh lương tâm đối  với những kẻ vô tình.

Sự  thay đổi của lòng người  thật đáng sợ. Hoàn cảnh sống thay đổi  con người dễ thay đổi, có lúc trở  nên vô tình, có kẻ dễ trở thành “ ăn ở bạc ”. Từ ở rừng, sau chiến tranh  trở về  thành phố  được  sống sung sướng  ở buynh đinh cao ốc, quen ánh điện cửa gương, vầng trăng tri kỉ – vằng trăng  tình nghĩa đã bị  người lãng quên  dửng dưng. Cách so sánh  của tác giả  làm chột dạ  nhiều người.

Từ hồi về thành phố

quen ánh điện cửa gương

vầng trăng đi qua ngõ

như người dưng qua đường

Trăng được nhân hóa lặng lẽ đi qua đường, trăng như người  dưng đi qua  chẳng còn ai nhớ,  chẳng còn ai hay. Những câu thơ rất bình dị, giọng thơ thầm thì như trò chuyện, giải bày tâm sự  cho nên chất trữ tình  của thơ trở nên sâu lắng chân thành.

Cũng như dòng sông có thác ghềnh, quanh co uốn khúc. Cuộc đời người  cũng có những biến động li kì. Ghi lại một tình huống “ Cuộc sống thành thị ” của những con người  mới ở rừng về thành phố, nhà thơ chỉ sử dụng 4 câu thơ  20 từ. Các từ “ Thình lình ”, “ vội ”, “ Đột ngột ” gợi tả tình thái đầy biểu cảm

Thình lình đèn điện tắt

phòng buyn đinh tối om

vội bật tung cửa sổ

đột ngột vầng trăng tròn

Trăng xưa đã đến với người, vẫn tròn, vẫn đẹp, vẫn thủy chung với mọi người, mọi nhà, với thiên nhiên, với người lính. Người ngắm trăng rồi suy ngẫm bâng khuâng

ngửa mặt lên nhìn mặt

có cái gì rưng rưng

như là đồng là bể

như là sông là rừng.

Hai chữ “ mặt ” trong đoạn thơ. Mặt  trăng. mặt người  cùng “ Đối  diện đồng tâm”. Trăng  chẳng nói, trăng chẳng trách, thế mà người lính cảm thấy  “ có cái gì rưng rưng ”. “ Rưng rưng ”  nghĩa là vì xúc động, nước mắt đang ứa ra, sắp khóc. Giọt nước mắt  làm cho lòng người  thanh thản lại, cái tốt  lành hé lộ, bao kỉ niệm  đẹp một đời người ùa về, tâm hồn gắn bó, chan hòa với thiên nhiên, với vần trăng xưa, với đồng với bể, với sông, với rừng, với quê hương đất nước. Cấu trúc câu thơ song hành, với biện pháp tu từ so sánh, với điệp ngữ là  cho thấy ngòi bút  của Nguyễn Duy  thật tài hoa. Ta thấy đoạn  thơ  hay ở chất thơ  bộc bạch chân thành, ở tính biểu cảm, ở hình tượng và cảm xúc. Từ ngôn ngữ hình ảnh đi vào lòng người, khắc sâu điều nhà thơ muốn tâm sự  với chúng ta  một cách nhẹ nhàng, thấm thía.

Xem thêm:  Tuyển tập những câu nói hay trong one piece – đảo hải tặc

Khổ thơ cuối mang tính hàm nghĩa độc đáo, đưa tới chiều sâu  tư tưởng triết lí.

Trăng cứ tròn vành vạnh

kể chi người vô tình

ánh trăng im phăng phắc

đủ cho ta giật mình.

Tròn vành vạnh là trăng rằm, một vẻ đẹp viên mãn. Im phăng phắc là im như tờ, không một tiếng động nhỏ. Vầng trăng cứ tròn đầy  và lặng lẽ “ kể chi người vô tình ”

Là biểu tượng  của sự bao dung độ lượng, của nghĩa tình thủy chung trọn vẹn, trong sáng  mà không hề đòi hỏi đền đáp. Đó cũng chính là  phẩm chất cao cả  của nhân dân  mà Nguyễn Duy  cũng như  nhiều nhà thơ  cùng thời đã phát hiện và cảm nhận  một cách sâu sắc  trong thời chiến tranh chống Mỹ.

Anh trăng là bài thơ hay  của Nguyễn Duy. Qua bài thơ tác giả  tâm sự với người đọc  những sâu kín nhất  nơi lòng mình. Chất triết lí thâm trầm  được diễn tả  qua hình tượng “ ánh trăng ” đã tạo nên giá trị tư tưởng và nghệ thuật  của bài thơ. Không nên sống vô tình. phải thủy chung trọn vẹn, phải ngiã tình sắt son  với bạn bè, đồng chí, nhân dân. Đó là điều mà Nguyễn Duy nói thật hay, thật cảm động qua bài thơ này.

Phân tích bài thơ Ánh trăng của Nguyễn Duy – Bài làm 5

Nhà thơ Anatơle France từng nói: “Đừng đánh mất gì quá khứ vì với quá khứ người ta xây dựng tương lai”. Cho đến khi đọc bài thơ “Ánh trăng” của Nguyễn Duy ta lại càng cảm nhận sâu sắc hơn câu nói ấy. Nhà thơ đã đứng giữa hôm nay để nhìn lại những ngày qua, từ tâm trạng riêng, lời thơ nhắc nhở mọi  người về thái độ sống ân nghĩa, thủy chung, “ uống nước nhớ nguồn.”

Bài thơ mang dáng dấp một câu chuyện nhỏ kể theo trình tự thời gian và ba khổ thơ đầu chính là những năm tháng quá khứ của tác giả: 

 “Hồi nhỏ sống với đồng

Với  sông rồi với bể”.

Điệp từ “với” cho thấy sự gắn bó, quấn quýt giữa con người và thiên nhiên. Niềm hạnh phúc của tuổi thơ có lẽ chính là được ngụp lặn trong làn nước mát lành, được hòa mình vào thiên nhiên, đất trời, với “đồng”, “sông”, “bể”. Mở đầu bài thơ, hình ảnh “ánh trăng” chưa xuất hiện, thứ ánh sáng bàng bạc lúc này phải chăng chưa để lại những ấn tượng thật sâu sắc? Chỉ đến khi con người đã trưởng thành, rời xa quê hương, ánh trăng kia bỗng như là niềm nhớ, gợi lại những hình ảnh  của quê hương, của những năm tháng ấu thơ. Đối với người lính, ánh trăng ấy còn có ý nghĩa thật đặc biệt. Trong đêm rừng hoang vu, lạnh lẽo như Chính Hữu từng viết:

“ Đêm nay rừng haong sương muối

 Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới.”

(Đồng chí)

Trăng đã thay thế cho “đồng”, “sông”, “bể” để trở thành người bạn đồng hành, chia sẻ mọi buồn vui, xoa dịu đi vết thương và  nỗi gian lao bằng thứ ánh sáng diệu kidf. Và cũng rất tự nhiên, vầng trăng đã trỏ thành người “tri kỉ”:

“Hồi chiến tranh ở rừng

 Vầng trăng thành tri kỉ.”

Với biện pháp tu từ nhân hóa, người và trăng thật gắn bó, chung thủy. Trăng đã gieo vào lòng người lính bao suy nghĩ:

“Trần trụi với thiên nhiên

Hồn nhiên như cây cỏ

Ngỡ khong bao giờ quên

Cái vầng trang tình nghĩa.”

Những lời thơ là lời khẳng định tình cảm ân nghĩa, thủy chung. Thế nhưng một thoáng “ ngỡ” ngàng kia dường như báo trước những điều sắp xảy ra, đó là sự thay đổi hoàn cánh sống: 

“Từ hồi về thành phố

Quen ánh điện cửa gương”

Đã ba năm sau khi đát nước thống nhất- một khoảng thời gian không quá dài nhưng cũng đủ để làm thay đổi một con người. Và thật đáng buồn khi:

“Vầng trăng đi qua ngõ

Như người dưng qua đường”.

Vẫn vầng trăng ấy, năm xưa còn là tri khi vậy mà nay dã trở thành người dưng. “Ánh điện”, “cửa gương”- những hình ảnh ẩn dụ cho cuộc sống tiện nghi, , thứ ánh sáng nhân tạo đã làm lu mờ đi ánh sáng tự nhiên, lu mờ đi cả cách sống của con người. Trong lòng ta không khỏi nhức nhối, xót xa khi nhân vật trữ tình đã vô tình với thien nhiên, với lịch sử và ngay chính bản thân mình.

Ở khổ thơ thứ tư, vầng trăng đột ngột xuất hiện trở lại, gợi bao suy ngẫm. Từ một tình huống tự nhiên, mạch cảm xúc của bài thơ bỗng có một bước ngoặt: 

“ Thình lình đèn điện tắt

Phòng buyn-đinh tối om

Vội bật tung cửa sổ

Đột ngột vầng trăng tròn.”

Từ láy “đột ngột”, “tình lình” đã nhấn mạnh giây phút tình cờ, bất ngờ. con người có phản ứng tự nhiên đi tìm nguồn sáng:

“vội bật tung của sổ”

Và lúc này đây, gặp lại vầng trăng năm xưa, con người ta không khỏi thoảng thốt. Con người không còn trốn chạy vầng trăng, trốn chạy bản thân nữa, hai linh hồn sống ấy đang ở tư thế đối mặt:

“Ngửa mặt lên nhìn mặt.”

ở tư thế đối diện ấy nhân vật trưc tình gặp lại người bạn tri kỉ để nhận ra sự bội bạc cua mình, cũng vừa thấy mình trong đó và rồi tự vấn lương tâm. Nỗi xao xuyến, xúc động xen với niềm day dứt:

“Có cái gì rưng rưng

Như là đồng là bể

Như là sông là rừng”.

Khổ thơ cuối gồm nhữn hình ảnh mang tính biểu tượng:

“Trăng cứ tròn vành vạnh

Kể chi người vô tình

Ánh trăng im phăng phắc

Đủ cho ta giật mình.”

Trăng “ tròn vành vạnh” tượng trưng cho vẻ đẹp vĩnh hằng của thiên nhiên, cho sự tròn đầy, thủy chung của quá khứ và cả dự bao dung của cuộc đời, đất nước. Lòng người thay đổi nhưng trăng chẳng đổi thay. Thế rồi trăng lại “im phăng phắc”, ánh trăng được nhân hóa thể hiện sự nghiêm khắc khiến cho con người phải “giật mình”. “Giật mình vì nhận ra sự vô tình của  bản thân, “giật mình” là để thức tỉnh lương tri, để tự  đấu tranh, tìm về những giá trị tốt đẹp của quá khứ. Cái “ giật mình” đó đáng trân trọng biết bao!

“Bài thơ viết về ánh trăng mà để nói chuyện đời, chuyện tình nghĩa. Tác giả chọn lối viết giản dị, dễ hiểu, đọc xong bài thơ,những người thích lối văn tân kì có thể cho là không có gì, những người ưa lối văn trau chuốt, tỉa tốt đến tinh xảo có thể thất vọng, những người quen lối ồn ào đại ngôn có thể ngỡ ngàng.” (Nguyễn Bùi Vợi). Dẫu vậy áng thơ ấy vẫn đủ để thanh lọc tâm hồn, lay động lại những kí ức đã vô tình quên lãng.

Check Also

thay co1 310x165 - Kể về lớp trưởng mà em quý mến

Kể về lớp trưởng mà em quý mến

Kể về lớp trưởng mà em quý mến Bài làm Chẳng biết tự khi nào …

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *